00:35 ICT Thứ sáu, 22/09/2017

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

LIÊN KẾT WEBSITE

VIDEO

Loading the player...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 21


Hôm nayHôm nay : 42

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3485

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 117144

Trang nhất » Tin Tức » Dạy và Học » Sáng kiến - Kinh nghiệm

SKKN ĐỊA

Thứ hai - 05/01/2015 15:55
PP MA TRẬN TRONG NHẬN DẠNG KIỂU BIỂU ĐỒ THÍCH HỢP ĐỊA 9
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
          Trong việc học tập và giảng dạy môn Địa Lí ở trường THCS  ngoài nội dung lí thuyết thì việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, trong đó có kĩ năng vẽ biểu đồ.
          Hiện nay, trong hầu hết các bài kiểm tra và đề thi học sinh giỏi môn Địa lí đều có 2 phần: Lí thuyết và thực hành. Trong đó phần thực hành thường có những bài tập vẽ, nhận xét và giải thích các loại biểu đồ, chiếm khoảng 30-35% tổng số điểm của đề thi.
          Trong thực tế thì kĩ năng vẽ biểu đồ của học sinh hiện nay còn yếu hoặc kĩ năng này chưa được các em coi trọng. Chính vì vậy vẫn còn một tỉ lệ lớn học sinh chưa xác định đúng kiểu biểu đồ để vẽ hoặc đúng kiểu nhưng vẫn mắc phải một số sai sót trong quá trình tiến hành vẽ biểu đồ nên không đạt điểm tối đa cho bài làm của mình. Là một giáo viên bộ môn Địa lí ở trường THCS, tôi rất quan tâm đến việc vừa cung cấp kiến thức cho học sinh vừa rèn luyện cho học sinh những kĩ năng Địa lí cơ bản trong đó có kĩ năng nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và vẽ biểu đồ để giúp các em khai thác kiến thức một cách đầy đủ và trực quan nhất.
          Đó chính là lí do để tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến "Phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ môn Địa lí 9 - THCS"
2. Mục đích nghiên cứu
          Trong hệ thống các môn học văn hóa hiện nay của trường THCS thì Địa lí vẫn còn bị một bộ phận lớn học sinh và phụ huynh xem là một môn học phụ. Việc truyền thụ kiến thức của giáo viên và tiếp thu của học sinh phần lớn vẫn còn thụ động, một chiều. Thái độ của học sinh đối với các giờ học bộ môn Địa lí còn hời hợt, chưa được coi trọng đúng mức. Chính vì thế rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ cho học sinh là một cách phát huy tính tích cực, tự học của học sinh đồng thời giúp cho các em tiếp thu kiến thức bộ môn một cách dễ dàng hơn, say mê hơn.
          Việc giúp học sinh xác định đúng loại, dạng biểu đồ cho mỗi bài tập về vẽ biểu đồ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi người giáo viên Địa lí. Từ đây hình thành cho học sinh những kĩ năng, thao tác cơ bản để tiếp cận với một cách học mới - cách học nhằm phát huy tính tự học tích cực, sáng tạo của học sinh và tạo hứng thú cho học sinh trong học tập bộ môn Địa lí. Đồng thời, việc xác định đúng kiểu biểu đồ sẽ giúp cho việc khai thác thông tin 2 chiều (nhận xét và giải thích) dễ dàng hơn, chính xác hơn.
          Đối với bản thân một người giáo viên như tôi khi thực hiện phương pháp này cũng là một cách giúp nâng cao khả năng xây dựng bài giảng và truyền thụ tri thức bộ môn một cách toàn diện hơn.
          Đó chính là mục đích mà tôi muốn đạt được trong khi áp dụng phương pháp sử dụng ma trận đồ trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và một số lưu ý khi tiến hành các bước vẽ biểu đồ ở môn Địa lí 9.
 
 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung liên quan để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Tăng cường kiểm tra qua các bài kiểm tra miệng, thường xuyên, định kì và   đánh giá. Tìm hiểu để nắm được thực trạng việc rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ của học sinh lớp 9 trường THCS
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Địa lí ở lớp 9 - THCS.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh khối 9 - Trường THCS
5. Phạm vi nghiên cứu:
- Bộ môn Địa lí 9 - THCS
- Giới hạn nghiên cứu: Nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ.
6. Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp chung:
- Kĩ năng vẽ biểu đồ xuất phát từ tri thức vì vậy trước khi cung cấp những kĩ năng cơ bản về vẽ biểu đồ thì việc dạy tri thức tối thiểu về biểu đồ và những nội dung liên quan đến biểu đồ là rất cần thiết.
- Muốn rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ Địa lí cho học sinh ở trường THCS nói chung và học sinh khối 9 nói riêng thì cần rèn luyện cho học sinh theo thứ tự từng bước từ đơn giản đến phức tạp: Trước tiên là kĩ năng đọc biểu đồ đến kĩ năng vẽ biểu đồ và cuối cùng là kĩ năng nhận xét và giải thích biểu đồ.
- Tri thức về biểu đồ giúp các em giải mã được các hình vẽ như đường, cột, miền, ... hoặc những con số khô cứng trong bảng số liệu và biểu đồ để kiến thức bộ môn thông qua đó trở nên sống động và ý nghĩa hơn. Đồng thời giúp các em xác lập được mối quan hệ giữa các con số với cột, đường, miền ,... để từ đó các em có thể phát hiện ra các tri thức mới tiềm tàng ẩn mình trong biểu đồ. Tất nhiên ở đây chỉ có các tri thức về biểu đồ thì chưa đủ mà cần phải kết hợp với các tri thức Địa lí khác. Đó cũng chính là tìm ra mối liên hệ nhân - quả trong khai thác kiến thức Địa lí ở tất cả các cấp học.
* Phương pháp cụ thể
- Nghiên cứu, tham khảo tài liệu Địa lí và các tài liệu, tư liệu liên quan đến các bài tập vẽ, nhận xét và giải thích biểu đồ.
- Thăm lớp, dự giờ để trao đổi kinh nghiệm và học hỏi đồng nghiệp.
- Tăng cường tự học, tự bồi dưỡng để đúc rút kinh nghiệm.
- Kết hợp với thực tế giảng dạy ở cơ sở.
7. Thời gian nghiên cứu
          Trong quá trình giảng dạy tại cơ sở kết hợp với việc không ngừng khảo sát  học sinh khối 9 tiến hành làm việc và kết quả của các em qua các bài tập về vẽ, nhận xét và giải  thích biểu đồ. Nhận thấy những sai sót, thiếu sót của học sinh trong quá trình học tập và những thay đổi tích cực trong khi tôi áp dụng  cách nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp thông qua phương pháp ma trận và một số lưu ý cơ bản khi tiến hành các thao tác vẽ biểu đồ tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài này.
 
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
          Cùng với quá trình toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay thì giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu và luôn đi trước một bước trong quá trình phát triển kinh tế  xã hội. Bởi trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia thì nhân tố con người được coi là nguồn lực quan trọng và cơ bản nhất. Chính vì vậy vấn đề chất lượng dạy học ở các cấp học, ngành học nói chung trong đó có bộ môn Địa lí nói riêng càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà sư phạm.
          Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn xã hội, môn Địa lí ở trường THCS nói chung và lớp 9 nói riêng đã không ngừng cải tiến chương trình, cải tiến phương pháp dạy học nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh và tạo hứng thú trong giờ học Địa Lí nên ngoài việc cung cấp kiến thức lí thuyết còn bổ sung thêm nhiều giờ học thực hành, ngoại khóa, tìm hiểu địa phương... Trong đó, các bài tập cuối bài học và bài thực hành đóng vai trò quan trọng đặc biệt là kĩ năng vẽ, nhận xét và giải thích các loại biểu đồ. Các bài tập này có nhiệm vụ vừa củng cố kiến thức lí thuyết vừa rèn luyện kĩ năng địa lí cho các em học sinh một cách thuần thục và chắc chắn hơn.
2. Cơ sở thực tiễn
a. Sơ lược về nội dung chương trình
          Hiện nay trong chương trình đổi mới sách giáo khoa Địa lí 9 - THCS gồm có 52 tiết học thì đã có đến 11 tiết thực hành. Trong đó có khoảng 6 tiết vẽ biểu đồ và có khoảng 13 bài tập về rèn luyện kĩ năng vẽ và nhận xét biểu đồ sau mỗi bài học của học sinh ở phần câu hỏi và bài tập.
          Ngoài ra, trong kiến thức bài học bên cạnh nội dung lí thuyết được cung cấp qua hệ thống kênh chữ thì còn được bổ sung trực quan bằng hệ thống kênh hình với các biểu đồ, tranh ảnh, bảng số liệu,...Điều này chứng tỏ bộ môn Địa lí 9 hiện nay không chỉ chú trọng đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức lí thuyết mà còn giúp các em rèn luyện những kĩ năng địa lí cần thiết trong đó kĩ năng vẽ, nhận xét và giải thích biểu đồ là một kĩ năng phổ biến.
b. Thực tế giảng dạy ở cơ sở:
* Thuận lợi:
          Đa số các tiết thực hành về vẽ biểu đồ, học sinh đều có hứng thú tham gia học tập tốt. Bởi những giờ học này không nặng về kiến thức lí thuyết mà chủ yếu rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cơ bản.
          Thông qua những bài thực hành về vẽ biểu đồ học sinh thấy được mối liên hệ với những nội dung lí thuyết đã học, thấy được xu hướng phát triển cũng như so sánh, phân tích, đánh giá được sự phát triển của các sự vật, hiện tượng địa lí. Đó cũng là một biện pháp rất tốt để các em ghi nhớ và củng cố kiến thức bài học cho mình. Đồng thời cũng là cơ hội để các em thể hiện khả năng của mình nên các em sẽ say mê hơn.
          Bản thân người giáo viên giảng dạy môn Địa lí khi thiết kế hoặc giảng dạy các bài tập thực hành cho học sinh cũng nhẹ nhàng hơn, không nặng về nội dung lí thuyết mà chủ yếu đi sâu vào các bước tiến hành, dẫn dắt học sinh các thao tác để các em hoàn thành được bài tập của mình.
          Thông qua đây người giáo viên cũng có cơ hội để đánh giá được năng lực của từng học sinh, phát hiện những học sinh có năng lực nhằm chuẩn bị tốt đội ngũ cho các kì thi học sinh giỏi đồng thời tìm ra những học sinh còn yếu kém trong việc rèn luyện kĩ năng để kịp thời có những biện pháp uốn nắn và điều chỉnh nhằm nâng cao toàn diện chất lượng dạy và học.
* Khó khăn:
          Vấn đề thường gặp hiện nay là học sinh học lệch khá nhiều. Nhiều em cho rằng Địa lí là môn học phụ nên không quan tâm, học qua loa, học lí thuyết chung chung mà coi nhẹ phần thực hành, làm bài tập về vẽ biểu đồ ở phần câu hỏi và bài tập nên kết quả còn thấp.
           Một khó khăn nữa là việc rèn luyện kĩ năng chỉ chiếm một thời lượng rất ít trong một tiết học nên đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu trước các yêu cầu của các bài tập hoặc bài thực hành mà giáo viên đã giao. Tuy nhiên nhiều em chưa thực sự tập trung và quan tâm đến các yêu cầu mà giáo viên đã giao cho nên đây  là khó khăn lớn đối với người giáo viên khi dạy một bài thực hành về vẽ biểu đồ, vì:
- Học sinh không xác định được yêu cầu của đề bài.
- Học sinh không xác định được kiểu biểu đồ thích hợp để vẽ.
- Học sinh khó khăn trong việc xử lí bảng số liệu (nếu có) cho phù hợp với yêu cầu của đề bài.
- Kĩ năng vẽ biểu đồ của học sinh còn lúng túng.
- Học sinh chưa nắm được các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ.
- Học sinh chưa biết cách khai thác thông tin từ biểu đồ.
          Do đó tỉ lệ học sinh xác định được đúng yêu cầu của đề bài và đúng dạng biểu đồ để vẽ còn thấp và nếu có xác định được đúng dạng và yêu cầu thì lại mắc phải một số sai sót trong quá trình tiến hành các thao tác vẽ.
          Chính vì vậy, nhận dạng được kiểu biểu đồ để vẽ cho phù hợp và biết cách vẽ biểu đồ giúp học sinh thích thú làm bài tập thực hành hơn, từ đó làm bài tập tốt hơn, kết quả học tập môn Địa lí sẽ nâng lên. Đồng thời cũng giúp cho giáo viên hệ thống các loại biểu đồ, phân loại các dạng bài tập biểu đồ, qua đó giúp cho người giáo viên phát huy hơn nữa khả năng giảng dạy của mình cho bộ môn nói chung và các bài thực hành nói riêng.
c. Nguyên nhân:
- Về phía học sinh:
+ Một số em vẫn xem Địa lí là một môn học phụ.
+ Coi trọng lí thuyết mà xem nhẹ thực hành
+ Dụng cụ học tập chưa đầy đủ: Một số em còn thiếu máy tính bỏ túi, compa, thước kẻ, thước đo độ, màu...
+ Khi giáo viên hướng dẫn thực hành, một số học sinh vẫn còn hời hợt, không  tập trung chú ý nên dẫn đến lúng túng khi tiến hành các thao tác vẽ.
- Về phía giáo viên:
+ Thời gian môt bài thực hành chỉ có 45 phút, có rất nhiều các bước cần tiến hành nhưng quan trọng nhất là việc kiểm tra, đánh giá kết quả bài tập của học sinh. Tuy vậy công việc này thường được thực hiện sau khi học sinh đã hoàn thành các yêu cầu của bài tập nên giáo viên bị hạn chế nhiều về thời gian để sửa chữa, uốn nắn những sai sót cho các em nhất là các học sinh còn yếu kém.
+ Bên cạnh các bài tập thực hành trên lớp, còn có rất nhiều các bài tập thực hành vẽ biểu đồ ở nhà. Nếu không có các biện pháp kiểm tra, đánh giá kịp thời thì nhiều em sẽ coi nhẹ việc thực hiện các bài tập này, hoặc có một số lỗi sai sót mắc phải của học sinh mà giáo viên không kịp thời phát hiện ra để giúp các em sửa chữa.
+ Phương tiện hỗ trợ tính trực quan cho học sinh trong một số bài thực hành còn thiếu hoặc cũ, nhàu nát,...khó sử dụng.
d. Khảo sát trước khi áp dụng
          Trước khi tôi tiến hành áp dụng kĩ năng nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp để vẽ thông qua phương pháp ma trận và hướng dẫn một số lưu ý cơ bản khi tiến hành vẽ biểu đồ thì ở trường tôi đang còn một bộ phận khá lớn học sinh vẫn còn coi nhẹ việc thực hành và làm các bài tập thực hành về vẽ biểu đồ. Các bài kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì học sinh vẫn tập trung vào làm các câu hỏi lí thuyết. Vì thế kết quả vẫn chưa cao, học sinh đạt điểm tối đa chiếm tỉ lệ rất nhỏ và thường mất điểm chủ yếu ở các câu hỏi nhằm rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng vẽ, nhận xét và giải thích các loại biểu đồ.
Bảng khảo sát trước khi tiến hành thực hiện giải pháp:
Bảng 1. Tỉ lệ nhận dạng biểu đồ để vẽ và vẽ biểu đồ của học sinh khối 9(%)

Lớp Tổng số HS Biết biểu đồ và vẽ đúng Vẽ sai biểu đồ hoặc mắc phải một số sai sót
9A 39 45 55
9B 33 32 68
9C 33 30 70
 
Bảng 2. Kết quả các bài tập thực hành về vẽ biểu đồ của học sinh khối 9

Lớp Tổng số HS Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu kém
9A 39 6 13 17 3
9B 33 2 6 20 5
9C 33 2 5 20 6
 
Bảng 3. Tỉ lệ kết quả các bài thực hành về vẽ biểu đồ của học sinh khối 9(%)

Lớp Tổng số HS Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu kém
9A 100 15,4 33,3 43,6 7,7
9B 100 6,1 18,2 60,6 15,1
9C 100 6,1 15,1 60,6 18,2
 
3. Các giải pháp thực hiện - tính khả thi của giải pháp
a. Biểu đồ, kĩ năng nhận dạng biểu đồ và cách vẽ một số biểu đồ thường gặp.
* Biểu đồ
- Biểu đồ là một hình vẽ mô tả một cách dễ dàng động thái phát triển của một hiện tượng (như quá trình phát triển số dân của một quốc gia qua các năm, quá trình tăng sản lượng của một ngành kinh tế,...), mối quan hệ về độ lớn giữa các đối tượng (như so sánh sản lượng lương thực giữa các vùng, so sánh sản lượng thủy sản giữa các tỉnh, thành phố...), hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể     (như cơ cấu ngành của nền kinh tế, cơ cấu dân số theo độ tuổi, cơ cấu thành phần kinh tế,...)
- Các loại biểu đồ rất phong phú, đa dạng và mỗi loại biểu đồ lại có thể được dùng để biểu thị nhiều mục đích khác nhau:
+ Nếu đề ra yêu cầu vẽ cụ thể dạng biểu đồ gì thì chỉ cần đọc kỹ, gạch dưới để tránh lạc đề và thực hiện đúng yêu cầu.
+ Đối với đề không ghi rõ yêu cầu cụ thể là vẽ biểu đồ gì mà chỉ yêu cầu vẽ dạng thích hợp nhất thì cần phải phân tích đề thật kỹ trước khi thực hiện. Đây là dạng đề khó nên học sinh muốn làm được cần có phương pháp phân tích để nhận dạng thích hợp. Để nhận được dạng biểu đồ bằng phương pháp ma trận thì học sinh cần đọc kỹ đề và dựa vào một số gợi ý cơ bản như : Bảng số liệu, yêu cầu mà bài tập cần đạt được, chức năng của biểu đồ sẽ vẽ dùng để thể hiện cho cái  gì của đối tượng Địa lí... sau đó căn cứ vào kết quả đã được xác định để lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất.
* Kĩ năng nhận dạng biểu đồ  và cách vẽ một số loại biểu đồ thường gặp:
+ Biểu đồ hình tròn:
- Nhận dạng biểu đồ:
+ Thường dùng để biểu diễn cơ cấu thành phần của một tổng thể và qui mô của đối tượng cần trình bày. Chỉ được thực hiện khi  giá trị tính của các đại lượng được tính bằng % và các giá trị thành phần cộng lại bằng 100%.
+ Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ: Cơ cấu, qui mô, tỉ   trọng, tỉ lệ...
Ví dụ: Biểu đồ cơ cấu tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế Việt Nam, biểu đồ cơ cấu các loại rừng của Việt Nam...
- Khi  vẽ biểu đồ hình tròn chúng ta cần tiến hành các bước sau đây:
+ Xử lí số liệu
Nếu số liệu của đề bài đã cho là số liệu thô (tỉ đồng, triệu người,...) thì việc đầu tiên là phải xử lí số liệu thô thành số liệu tinh (tỉ lệ  %)
Chú ý khi tính toán ta có thể làm tròn số đến hàng chục của số thập phân nhưng tổng tỉ lệ của các thành phần phải bằng 100%
+ Xác định bán kính hình tròn
Bán kính hình tròn phải phù hợp với khổ giấy, đảm bảo tính trực quan và tính mĩ thuật của biểu đồ.
Trong trường hợp phải vẽ biểu đồ bằng những hình tròn có bán kính khác nhau thì cần  phải tính bán kính cho hình tròn theo công thức S=R2
+ Chia hình tròn thành các nan quạt theo đúng tỉ lệ và trật tự của các thành phần trong đề bài. Bắt đầu vẽ từ tia 12h và thuận chiều kim đồng hồ. Thứ tự các thành phần của biểu đồ phải giống nhau để tiện cho việc so sánh.
+ Hoàn thành biểu đồ:
Ghi tỉ lệ của các thành phần trên biểu đồ
Chọn kí hiệu thích hợp thể hiện trên biểu đồ đồng thời lập bảng chú giải
Ghi tên biểu đồ.
+ Biểu đồ hình cột
- Nhận dạng biểu đồ
+ Có thể được sử dụng để biểu hiện động thái phát triển, so sánh tương quan về độ lớn giữa các đối tượng hoặc thể hiện các thành phần của một tổng thể. Tuy nhiên, loại biểu đồ này thường được sử dụng để chỉ khác biệt, sự thay đổi về qui mô khối lượng của một hay một số đối tượng địa lý hoặc sử dụng để thực hiện tương quan về độ lớn giữa các đại lượng.
+ Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ: Tình hình, so sánh, sản lượng, số lượng.
 Ví dụ: Vẽ biểu đồ thể hiện mật độ dân số của các vùng trong nước hoặc so sánh dân số, diện tích… của 1 số tỉnh (vùng, nước), so sánh sản lượng (lúa, thủy sản, cà phê…) của một số địa phương qua một số năm.
- Khi vẽ biểu đồ hình cột cần tiến hành theo một số bước sau đây:
+ Chọn tỉ lệ thích hợp
Căn cứ vào các số liệu của đề bài và khổ giấy vẽ, chọn tỉ lệ thích hợp để vẽ  sao cho đảm bảo các yêu cầu trực quan và thẫm mĩ (cần chú ý tới tương quan về độ cao giữa các cột và tương quan giữa chiều cao trục tung và độ dài trục hoành của biểu đồ sao cho cân đối, hợp lí.)
+ Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc: Trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng         (triệu người, tỉ KWh, tỉ USD, hoặc %....). Trục ngang thể hiện các năm hoặc các đối tượng khác nhau.
+ Tính độ cao của từng cột cho đúng tỉ lệ rồi thể hiện lên giấy.
Chú ý: Các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang phải bằng nhau. Tùy theo yêu cầu cụ thể mà vẽ khoảng cách các cột bằng nhau hoặc cách nhau theo đúng tỉ lệ thời gian.
+ Hoàn thiện biểu đồ
Ghi các số liệu tương ứng vào các cột (Ghi giá trị độ lớn ở đỉnh cột và ghi thời gian hoặc tên của đối tượng vào chân cột.)
Vẽ kí hiệu vào cột (nếu cần) và thành lập bảng chú giải
Ghi tên biểu đồ
+ Biểu đồ đường - đồ thị:
- Nhận dạng biểu đồ
+ Đồ thị hay còn gọi là đường biểu diễn hoặc biểu đồ dạng đường, là dạng biểu đồ dùng để thể hiện tiến trình phát triển, sự biến thiên của các đối tượng qua thời gian.
+ Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ: Tốc độ tăng trưởng, tốc độ phát triển, nhịp điệu phát triển, nhịp điệu tăng trưởng, tình hình tăng trưởng, tình hình phát triển, quá trình tăng trưởng, quá trình phát triển.
Ví dụ: Tình hình tăng trưởng đàn gia súc gia cầm, tốc độ tăng trưởng một số chỉ tiêu sản xuất lúa,...
+ Biểu đồ đường chỉ được thực hiện khi trục hoành biểu hiện đối tượng là thời gian.
- Khi vẽ biểu đồ đường biểu diễn cần tiến hành theo các bước sau đây:
+ Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc: Trục tung thể hiện độ lớn của các đối tượng cần biểu hiện (số người, sản lượng, tỉ lệ %,...). Trục hoành thể hiện thời gian.
+ Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả hai trục, chú ý tương quan giữa độ cao của trục tung và độ dài của trục hoành sao cho biểu đồ đảm bảo tính trực quan và mĩ thuật.
+ Căn cứ vào các số liệu của đề bài và tỉ lệ đã xác định để tính toán và đánh dấu tọa độ các điểm mốc trên hai trục. Khi đánh dấu các năm trên trục hoành cần hết sức lưu ý đến khoảng cách các năm. Thời điểm năm đầu tiên nằm trên trục tung.
+ Xác định các điểm mốc và nối các điểm mốc bằng các đoạn thẳng để hình thành đường biểu diễn.
+ Hoàn thiện biểu đồ:
Ghi số liệu vào biểu đồ
Nếu sử dụng kí hiệu thì cần có bảng chú giải
Ghi tên biểu đồ
- Trong trường hợp trên cùng một hệ trục tọa độ phải vẽ từ hai đường biểu diễn trở lên cần lưu ý:
+ Nếu vẽ hai hoặc nhiều đường biểu diễn có chung một đơn vị thì mỗi đường cần dùng một kí hiệu riêng để phân biệt và có bảng chú giải kèm theo.
+ Nếu vẽ hai đường biểu diễn có đơn vị khác nhau (Một đường biểu diễn số dân, một đường biểu diễn sản lượng lúa,...) thì vẽ hai trục đúng ở hai bên biểu đồ, mỗi trục thể hiện một đơn vị.
+ Nếu phải vẽ nhiều đường biểu diễn mà số liệu đã cho lại thuộc nhiều đơn vị khác nhau thì phải tính toán để chuyển từ số liệu thô (số liệu tuyệt đối, với các đơn vị khác nhau) sang số liệu tinh (số liệu tương đối, với cùng một đơn vị thống nhất là %). Thông thường khi tính toán người ta lấy số liệu năm đầu tiên làm gốc và bằng 100%. Số liệu của các năm tiếp theo là tỉ lệ % so với năm đầu tiên. Sau đó dùng các số liệu tinh đã qua xử lí để vẽ các đường biểu diễn. Đối với loại biểu đồ này thì chỉ cần hệ tọa độ vuông góc với một trục tung và một trục hoành. Tuy nhiên khi tiến hành vẽ loại biểu đồ này cần lưu ý các mốc thời gian của các đối tượng được biểu hiện trên biểu đồ phải trùng nhau.
+ Biểu đồ kết hợp (đường và cột)
- Nhận dạng biểu đồ:
+ Đây là dạng biểu đồ kết hợp giữa biểu đồ cột và đường biểu diễn. Do phải biểu hiện các đối tượng có đơn vị khác nhau nên người ta dùng hai trục đứng để thể hiện các đơn vị và các đối tượng trong biểu đồ kết hợp thường có mối quan hệ nhất định với nhau.
+ Dấu hiệu nhận dạng biểu đồ kết hợp là khi đề ra có cụm từ: Thể hiện số lượng và tốc độ tăng trưởng, ....
Ví dụ: Biểu đồ biểu hiện sản lượng lương thực và tốc độ tăng dân số, biểu hiện số dân và tốc độ tăng dân số, biểu hiện số dân thành thị và tỉ lệ dân thành thị,...
- Khi vẽ biểu đồ kết hợp thường tiến hành theo các bước sau:
+ Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc gồm có hai trục tung nằm hai bên biểu đồ.
Hai trục tung thể hiện các đối tượng (có mũi tên thể hiện chiều tăng của đối tượng).
Trục hoành biểu hiện năm (lưu ý khoảng cách năm)
+ Xác định tỉ lệ thích hợp trên các trục làm như thế nào để vừa đảm bảo tính trực quan và mĩ thuật của biểu đồ.
+ Tiến hành vẽ:
Vẽ biểu đồ hình cột (giống như khi tiến hành thao tác vẽ biểu đồ hình cột)
Vẽ đường biễu diễn (giống như khi tiến hành thao tác vẽ biểu đồ đường biểu diễn)
Cần lưu ý khi đánh dấu các điểm mốc cho đường biểu diễn cần đặt ở vị trí trung tâm của các cột và tương ứng với các mốc thời gian đã được đánh dấu.
+ Hoàn thiện biểu đồ.
Ghi số liệu trên đầu mỗi cột.
Lập bảng chú giải.
Ghi tên biểu đồ.
+ Biểu đồ miền:
- Nhận dạng biểu đồ
+ Biểu đồ miền còn được gọi là biểu đồ diện. Loại biểu này thể hiện được cả cơ cấu và động thái phát triển của các đối tượng. Toàn bộ biểu đồ là 1 hình chữ nhật (hoặc hình vuông), trong đó được chia thành các miền khác nhau.
+ Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ : Cơ cấu, tỉ lệ và có nhiều mốc thời gian (từ 4 mốc thời gian trở lên ). 
 Ví dụ: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi cơ cấu nước ta thời kì 1991- 2002, sự thay đổi tỉ lệ dân thành thị và nông thôn Việt Nam giai đoạn 1990 - 2002, ...
- Khi vẽ biểu đồ miền cần tiến hành theo các bước sau đây:
+ Nếu số liệu của bài là số liệu thô (số liệu tuyệt đối) thì trước khi vẽ cần chuyển sang số liệu tinh (tỉ lệ %)
+ Vẽ khung biểu đồ (là một hình chữ nhật hoặc hình vuông). Cạnh đứng thể hiện tỉ lệ 100%, cạnh nằm ngang thể hiện khoảng cách từ năm đầu đến năm cuối của biểu đồ.
+ Vẽ  ranh giới của miền: Trong trường hợp biểu đồ gồm nhiều miền chồng lên nhau thì ranh giới phía trên của miền thứ nhất được vẽ như vẽ đồ thị. Cần lưu ý là ranh giới phía trên của miền thứ nhất lại là ranh giới phía dưới của miền thứ hai và ranh giới phía trên của miền cuối cùng chính là đường nằm ngang thể hiện tỉ lệ 100%.
Việc sắp xếp thứ tự các miền cần lưu ý sao cho nó có ý nghĩa nhất , đồng thời cũng phải tính đến tính trực quan và tính mĩ thuật của biểu đồ. Khoảng cách các năm trên cạnh nằm ngang cần đúng tỉ lệ. Thời điểm năm đầu tiên và năm cuối cùng phải nằm trên hai cạnh đứng của biểu đồ.
+ Hoàn thiện biểu đồ:
Ghi số liệu tương ứng và kí hiệu lên biểu đồ
Lập bảng chú giải (nếu cần)
Ghi tên biểu đồ
b. Sử dụng phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ môn Địa lí lớp 9-THCS.
* Phương pháp Ma trận trong nhận dạng biểu đồ Địa lí được đặc trưng bởi một bảng nhận dạng gồm hàng và cột. Trong đó hàng là các căn cứ để nhận dạng biểu đồ phù hợp (bảng số liệu, yêu cầu của đề bài và chức năng của biểu đồ); Cột biểu hiện các dạng biểu đồ thường gặp (cột, tròn, miền, đường, kết hợp.)
* Các căn cứ để nhận dạng biểu đồ:
- Bảng số liệu:
+ Căn cứ vào nội dung biểu thị của bảng số liệu, số lượng hàng ngang cột dọc và đơn vị tính của bảng số liệu để nhận dạng biểu đồ thích hợp
+ Bảng số liệu thường tồn tại dưới các dạng chủ yếu: Bảng số liệu tương đối, bảng số liệu tuyệt đối, cả tương đối và tuyệt đối,...
- Yêu cầu của đề bài:
+ Thông thường việc lựa chọn biểu đồ để vẽ của học sinh tập trung chủ yếu vào yêu cầu của đề bài. Đây cũng là một trong những căn cứ quan trọng nhất khi chúng ta lập bảng Ma trận trong nhận dạng loại biểu đồ thích hợp để vẽ cho bài tập hoặc bài thực hành.
+ Các dạng yêu cầu thường gặp: Nhận xét quy mô, cơ cấu, tỉ trọng, tỉ lệ; nhận xét số lượng, sản lượng; nhận xét sự thay đổi, chuyển dịch, tăng trưởng,... của các đối tượng Địa lí trong một hoặc nhiều năm. Hay so sánh quy mô, cơ cấu, sản lượng, số lượng, tăng trưởng, sự chuyển dịch giữa các đối tượng Địa lí trong nhiều năm hoặc đơn giản chỉ trong một năm
- Chức năng của biểu đồ:
Trong chương trình Địa lí 9 - THCS hiện nay, biểu đồ thường có các chức năng cơ bản sau:
+ Thể hiện quy mô, cơ cấu
+ Thể hiện tốc độ, chỉ số tăng trưởng
+ Thể hiện sự thay đổi quy mô, cơ cấu.
+ Thể hiện một số chỉ tiêu cơ bản...
Ngoài 3 căn cứ chính trên để lập bảng Ma Trận trong lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp để vẽ còn có thể dựa vào một số căn cứ sau:
+ Tính trực quan và mĩ thuật của biểu đồ.
+ Kĩ thuật vẽ...
* Bảng Ma trận trong lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp để vẽ
 

Căn cứ BĐ Cột BĐ Tròn BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐKết hợp
Bảng số
 liệu
       
 
 
Yêu cầu của bài tập          
Chức năng của biểu đồ          
Cộng          
 
 
Sau khi lựa chọn các loại biểu đồ thích hợp để vẽ trên cơ sở 3 căn cứ trên thì phần " cộng " sẽ cho chúng ta kết quả cuối cùng nên lựa chọn biểu đồ nào thích hợp cho bài tập hoặc bài thực hành. Biểu đồ đó sẽ là biểu đồ hội tụ được phần đa các căn cứ và đó cũng chính là dạng biểu đồ có nhiều sự lựa chọn nhất.
Bảng ma trận là thao tác cần thiết khi tiến hành nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp. Nhưng trước khi lập được bảng ma trận một cách hiệu quả và nhanh chóng để khỏi mất quá nhiều thời gian thì người học sinh phải nắm được các cách nhận dạng loại biểu đồ thích hợp dựa vào các căn cứ đã cho.
Cần lưu ý thêm rằng bảng Ma trận được lập ra là để nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp cho bài tập chứ không phải là một yêu cầu của bài tập nên thao tác này không làm vào trong bài làm mỗi bài tập hoặc thực hành.
c. Một số ví dụ về áp dụng phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ môn Địa lí 9 - THCS
 
Ví dụ 1: Cho bảng số liệu:
Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế, năm 2002

Các thành phần kinh tế
 
Tỷ lệ %
Kinh tế Nhà nước
 
38,4
Kinh tế tập thể
 
8,0
Kinh tế tư nhân
 
8,3
Kinh tế cá thể
 
31,6
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
 
13,7
Tổng cộng :
 
100
a. Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện cơ cấu GDP nước ta phân theo thành phần kinh tế năm 2002.
b.Nhận xét về thành phần kinh tế?
* Lập bảng Ma trận nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp:
 

Căn cứ BĐ Tròn BĐ Cột BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐKết hợp
Bảng số liệu x x  
 
   
Yêu cầu của đề bài x        
Chức năng của biểu đồ x        
Cộng 3 1 0
 
0 0
Vậy , biểu đồ có sự lựa chọn cao nhất chính là biểu đồ tròn.
Bài làm
a. Vẽ biểu đồ:
Bước 1:  Vẽ hình tròn có bán kính thích hợp với khổ giấy
Bước 2:  Giáo viên hướng dẫn cách tính góc ở tâm : 100% = 3600
                                       1% =    = 3,60  ---> 1% = 3,60
Sau đó lần lượt tính góc ở tâm của các thành phần kinh tế đã cho ở bảng số liệu (thao tác này có thể tiến hành ngoài giấy nháp) rồi ghi kết quả vào bài.
Bước 3: Bắt đầu vẽ từ tia 12 giờ và chia hình tròn thành những nan quạt theo đúng tỉ lệ và trật tự các thành phần kinh tế trong bảng số liệu. Vẽ đến đâu thì sử dụng kí hiệu đồng thời thiết lập bảng chú giải đến đó.
Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ
- Hoàn thành bảng chú giải.
- Ghi tên biểu đồ.
- Đảm bảo tính thẫm mĩ của biểu đồ

Biểu đồ cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế năm 2002
b. Nhận xét:
- Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế của nước ta đa dạng.
- Cơ cấu GDP nước ta phân theo thành phần kinh tế không đồng đều:
+ Thành phần kinh tế Nhà Nước chiếm tỉ trọng lớn (38,4 % )
+ Thành phần kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân chiếm tỉ trọng nhỏ nhất.
 
Ví dụ 2: Cho bảng số liệu:
Diện tích gieo trồng, phân theo nhóm cây (nghìn ha)

                                       Năm
Các nhóm cây
1990 2002
Tổng số
Cây lương thực
Cây công nghiệp
Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác
9040,0
6474,6
1199,3
1366,1
12831,4
8320,3
2337,3
2173,8
 
 
a. Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây của nước ta trong hai năm 1990 và 2002
b. Từ bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ, hãy nhận xét sự thay đổi quy mô diện tích và tỉ trọng diện tích gieo trồng các nhóm cây.
* Lập bảng Ma Trận nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp:

Căn cứ BĐ Tròn BĐ Cột BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐKết hợp
Bảng số liệu x x   x  
Yêu cầu của đề bài x        
Chức năng của biểu đồ x        
Cộng 3 1 0
 
1 0
Vậy biểu đồ thích hợp nhất là biểu đồ hình tròn
Bài làm:
a. Vẽ biểu đồ:
- Bước 1: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách xử lý số liệu:
+ Tiến hành các bước xử lí số liệu thô thành số liệu tinh ở ngoài
+ Ghi kết quả đã qua xử lí vào bài bằng cách lập lại bảng số liệu ở đề ra và chuyển sang đơn vị khác (%) đồng thời ghi kết quả đã tính toán vào bảng.
Bảng: Tỉ trọng diện tích gieo trồng các nhóm cây

Năm
 
Các nhóm cây
 
1990
 
2002
Tổng số 100% 100%
Cây lương thực 71,6% 64,8%
Cây công nghiệp 13,3% 18,2%
Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác 15,1% 17%
( Chú ý khâu làm tròn số sao cho tổng các thành phần phải bằng 100%)
Giáo viên hướng dẫn cách tính góc ở tâm tương tự ở ví dụ 1
- Bước 2: : Xác định bán kính của hình tròn (đối với đề ra này không phải tính bán kính hình tròn vì đề ra đã cho sẵn bán kính): Năm 1990 có bán kính là 20mm, năm 2002 có bán kính là 24mm. Khi tiến hành vẽ hai hình tròn có bán kính khác nhau, để tiện cho việc so sánh cần lưu ý:
+ Thứ tự các mốc thời gian (Năm 1990 phải đứng trước năm 2002)
+ Khoảng cách các đường tròn phù hợp.
+ Tâm hai đường tròn nên nằm trên một đường thẳng.
- Bước 3 : Bắt đầu vẽ từ tia 12 giờ, vẽ thuận chiều kim đồng hồ. Vẽ các hình        quạt tương ứng với tỉ trọng của từng thành phần trong cơ cấu và không tự ý sắp xếp lại vị trí các thành phần của đối tượng địa lí. Ghi trị số % vào các hình quạt tương ứng.
Vẽ đến đâu tô màu hay kẽ vạch ngay đến đó (nên dùng chung một kiểu kí hiệu cho các đối tượng trong cả hai năm) đồng thời thiết lập bảng chú giải
- Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ:
+ Tên biểu đồ
+ Tính thẫm mĩ của biểu đồ

 
 
 
 
 
 
 
     Năm 1990                                       Năm 2002

Biểu đồ cơ cấu diện tích gieo trồng phân theo các loại cây năm 1990 và 2002
b. Nhận xét:
- Cây lương thực:
+ Diện tích gieo trồng tăng 1845,7 nghìn ha
+ Tỉ trọng giảm từ 71,6% xuống 64,8%
- Cây công nghiệp:
+ Diện tích gieo trồng tăng 1138 nghìn ha
+ Tỉ trọng tăng từ 13,3% lên 18,2%.
- Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác:
+ Diện tích tăng 807,7 nghìn ha
+ Tỉ trọng tăng từ 15,1% lên 17%.
Ví dụ 3: Cho bảng số liệu
Diện tích nuôi trồng thủy sản của các tỉnh, thành phố của vùng
Duyên Hải Nam Trung Bộ (năm 2002)

Các tỉnh, thành phố Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên Khánh Hòa Ninh Thuận Bình Thuận
Diện tích (nghìn ha) 0,8 5,6 1,3 4,1 2,7 6,0 1,5 1,9
a. Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện diện tích nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh, thành phố của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (năm 2002.)
b. Nhận xét
* Lập bảng Ma Trận trong nhận dạng biểu đồ thích hợp:

Căn cứ BĐ Tròn BĐ Cột BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐ Kết hợp
Bảng số liệu x x      
Yêu cầu của đề bài   x      
Chức năng của biểu đồ   x      
Cộng 1 3 0 0 0
 
Vậy, dạng biểu đồ có nhiều sự lựa chọn và thích hợp nhất là biểu đồ hình cột
Bài làm
a. Vẽ biểu đồ.
Bước 1: Vẽ hệ trục tọa độ tâm O
- Trục tung: Thể hiện diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, có mũi tên và có mốc ghi cao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu. Ghi rõ đơn vị (nghìn ha)
- Trục hoành: Chia thành 8 đoạn bằng nhau tương ứng với 8 tỉnh, thành phố.
Chú ý xác định tỉ lệ thích hợp, tương quan giữa độ cao của trục tung và độ dài của trục hoành sao cho biểu đồ đảm bảo tính trực quan và mĩ thuật.
Bước 2: Tiến hành vẽ
- Vẽ lần lượt các tỉnh, thành phố đã cho trong bảng số liệu. Không tự ý sắp xếp lại thứ tự các tỉnh, thành phố (trừ khi đề ra yêu cầu)
- Cột đầu tiên (thành phố Đà Nẵng) cách trục tung một khoảng nhất định
- Bề ngang của các cột bằng nhau. Chiều cao của các cột ứng với độ lớn, nhỏ của các đối tượng. Đầu mỗi cột ghi độ lớn của các đối tượng (nghìn ha) và cuối mỗi cột là tên tỉnh, thành phố ứng với giá trị trên cột.
Bước 3: Hoàn thiện biểu đồ
+ Tên biểu đồ.
+ Tính thẫm mĩ của biểu đồ
 

Biểu đồ diện tích nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh, thành phố
của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (2002)
b. Nhận xét:
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các tỉnh, thành phố vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ không đồng đều:
- Đứng đầu là Khánh Hòa (6 nghìn ha) rồi đến Quảng Nam (5,6 nghìn ha)
- Thành phố Đà Nẵng có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản thấp nhất vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ (0,8 nghìn ha)
- Các tỉnh, thành phố Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản thuộc loại trung bình.
Ví dụ 4: Cho bảng số liệu:
 Giá trị sản xuất công nghiệp ở Trung Du và miền núi Bắc Bộ
(Đơn vị: tỉ đồng).

Năm
Tiểu vùng
1995 2000 2002
Tây Bắc 320,5 541,1 696,2
Đông Bắc 6179,2 10657,7 14301,3
 
a.Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện giá trị sản xuất công nghiệp của hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc.
b. Nhận xét giá trị sản xuất công nghiệp của hai tiểu vùng.
* Lập bảng Ma Trận nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp:

Căn cứ BĐ Tròn BĐ Cột BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐ Kết hợp
Bảng số liệu x x x x  
Yêu cầu của đề bài x x x    
Chức năng của biểu đồ   x      
Cộng
 
2 3 2 1 0
 
Vậy, biểu đồ có sự lựa chọn cao nhất là biểu đồ hình cột
Bài làm
a. Vẽ biểu đồ.
 Bước 1: Vẽ hệ tọa độ tâm O
- Trục tung: Biểu thị giá trị sản xuất công nghiệp (tỉ đồng). Có vạch trị số lớn hơn trị số lớn nhất trong chuỗi số liệu (14301,3 tỉ đồng). Có mũi tên theo chiều tăng của đối tượng (tỉ đồng)
- Trục hoành: Biểu hiện năm. Có mũi tên thể hiện chiều tăng của đối tượng. Năm đầu tiên (năm 1995) cách gốc tọa độ một khoảng cách thích hợp.
Bước 2: Tiến hành vẽ
- Vẽ theo năm (gồm 3 năm nhưng lưu ý khoảng cách năm)
- Mỗi năm gồm hai cột tương ứng với hai tiểu vùng (Đông Bắc và Tây Bắc)
- Ghi giá trị trên đầu mỗi cột tương ứng.
Bước 3: Dùng kí hiệu riêng để phân biệt hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc.
Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ:
- Lập bảng chú giải.
- Tên biểu đồ.
- Tính thẫm mĩ của biểu đồ                 

Giá trị sản xuất công nghiệp ở Trung du và miền núi
Bắc Bộ  qua các năm 1995, 2000, 2002.
b. Nhận xét
- Từ năm 1995 đến năm 2002 giá trị sản xuất công nghiệp ở hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc đều liên tục tăng lên
+ Đông Bắc năm 2002 tăng gấp 2,17 lần so với năm 1995.
+Tây Bắc năm 2002 tăng gấp 2,3 lần so với năm 1995.
- Từ năm 1995 đến 2002 thì giá trị sản xuất công nghiệp của tiểu vùng Đông    Bắc luôn cao hơn tiểu vùng Tây Bắc:
+ Năm 1995 cao gấp 19,3 lần.
+ Năm 2000 cao gấp 19,7 lần.
+ Năm 2002 cao gấp 20,5 lần.
Ví dụ 5: Cho bảng số liệu:
Dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu người của Đồng Bằng Sông Hồng thời kì 1995- 2002( % )

Năm                                   Tiêu chí 1995 1998 2000 2002
Dân số 100 103,5 105,6 108,2
Sản lượng lương thực 100 117,7 128,6 131,1
Bình quân lương thực/ đầu người 100 113,8 121,8 121,2
Qua bảng số liệu sau hãy:
Vẽ biểu đồ thể hiện tốc độ tăng dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu người ở Đồng bằng sông Hồng.
* Lập bảng Ma Trận để nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp nhất

Căn cứ BĐ Tròn BĐ Cột BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐKết hợp
Bảng số liệu   x x    
Yêu cầu của đề bài     x    
Chức năng của biểu đồ     x    
Cộng 0 1 3 0 0
 
  Vậy, biểu đồ có sự lựa chọn cao nhất là biểu đồ - đồ thị (đường biểu diễn)
  a. Vẽ biểu đồ.
Bước 1: Vẽ hệ trục toạ độ tâm O
- Trục tung:
+ Thể hiện độ lớn các đối tượng (dân số, sản lượng và bình quân lương thực theo đầu người)
+ Biểu thị trị số %, có vạch trị số lớn hơn trị số lớn nhất trong chuỗi số liệu           ( 131,1%)
+ Có mũi tên theo chiều tăng của giá trị, ghi đơn vị tính ( %)
+ Gốc tọa độ thường lấy đơn vị là 0
- Trục hoành:
+ Biểu thị năm. Có mũi tên theo chiều tăng giá trị, ghi rõ năm.
+ Gốc tọa độ trùng với năm gốc (năm 1995).
Chú ý: Tương quan giữa độ cao của trục tung và độ dài của trục hoành để biểu đồ đảm bảo tính mĩ thuật và trực quan.
Bước 2: Tiến hành vẽ đồ thị
- Căn cứ số liệu của đề bài (bảng số liệu) và tỉ lệ đã xác định để đánh dấu tọa độ các điểm mốc trên hai trục.
- Khi đánh dấu các năm trên trục hoành hết sức lưu ý đến tỉ lệ (nghĩa là khoảng cách các năm: Từ 1995-1998 là 3 năm, từ 1998-2000 và từ 2000-2002 là 2 năm).
- Xác định các điểm mốc và nối các điểm mốc bằng các đoạn thẳng để hình thành đường biểu diễn.
- Có thể vẽ các đồ thị biểu diễn bằng các màu khác nhau, các đường nét liền nét đứt hoặc các kí hiệu khác nhau được kí hiệu tại chỗ đánh dấu các điểm mốc.
Bước 3: Hoàn thành biểu đồ:
- Ghi số liệu vào biểu đồ.
- Lập bảng chú giải và ghi tên biểu đồ.

 
Ví dụ 6: Cho bảng số liệu:
Sản lượng thủy sản (nghìn tấn)

Năm Tổng số Chia ra
Khai thác Nuôi trồng
1990
1994
1998
2002
890,6
1465,0
1782,0
2647,4
728,5
1120,9
1357,0
1802,6
162,1
344,1
425,0
844,8
 
a. Hãy vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện sản lượng thủy sản nước ta thời kì
1990-2002.
b. Nêu nhận xét.
* Lập bảng Ma Trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp:                         

Căn cứ BĐ Tròn BĐ Cột BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐ Kết hợp
Bảng số
 liệu
  x x x  
Yêu cầu của đề bài   x x    
Chức năng của biểu đồ     x    
Cộng 0 2 3 1 0
Vậy, kiểu biểu đồ thích hợp nhất cho bài tâp này là biểu đồ đường (đồ thị)
Bài làm
a. Vẽ biểu đồ
Bước 1: Kẻ hệ trục tọa độ tâm O
- Trục tung: Biểu hiện sản lượng thủy sản (nghìn tấn)
+ Có vạch trị số lớn hơn trị số trong bảng số liệu (2647,4 nghìn tấn)
+ Có mũi tên theo chiều tăng của đối tượng (nghìn tấn)
+ Gốc tọa độ lấy giá trị là O
- Trục hoành: Biểu hiện năm.
+ Có mũi tên theo chiều tăng của giá trị (năm)
+ Gốc tọa độ trùng với năm gốc (năm 1990)
+ Khoảng cách các năm đều nhau (4 năm)
Lưu ý: Tương quan giữa độ cao của trục tung và độ dài của trục hoành để đảm bảo tính trực quan và mĩ thuật của biểu đồ.
Bước 2: Tiến hành vẽ các đồ thị:
- Vẽ lần lượt từng đối tượng (Tổng số, khai thác, nuôi trồng)
- Xác định tọa độ các điểm mốc và nối lần lượt từng điểm mốc bằng các đoạn thẳng để tạo thành các đồ thị.
- Tất cả các điểm mốc đều được tính từ giá trị O trở đi (không lấy ranh giới của đường thứ nhất làm điểm mốc tính điểm mốc thứ 2, không lấy ranh giới  đường thứ 2 làm điểm mốc để tính điểm mốc thứ 3,...)
- Có thể dùng các màu khác nhau hoặc dùng các đường nét liền, nét đứt khác nhau để phân biệt các đối tượng khác nhau.
Bước 3: Hoàn thiện biểu đồ:
- Lập bảng chú giải.
- Ghi tên biểu đồ


 
- Tính mĩ thuật của biểu đồ
 Nghìn tấn


 Năm

           Biểu đồ thể hiện sản lượng thủy sản nước ta thời kì 1990-2002
 
b. Nhận xét
- Tổng sản lượng thủy sản nước ta qua các năm liên tục tăng (Từ năm 1990- 2002: Tăng gấp gần 3 lần).
- Sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng tăng nhanh liên tục.
- Sản lượng thủy sản khai thác tăng nhanh hơn sản lượng thủy sản nuôi trồng.
 
Ví dụ 7: Cho bảng số liệu:
Sự tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên của     
dân số nước ta thời kì 1954- 2003

Năm 1954 1960 1965 1970 1976 1979 1989 1999 2003
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (%) 1,1 3,9 2,9 3,3 3,0 2,5 2,1 1,43 1,43
Dân số (triệungười) 23,8 30,2 34,9 41,1 49,2 52,7 64,4 76,3 80,9
 
a. Hãy vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện số dân và tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số nước ta thời kì 1954-2003.
b. Nhận xét về số dân và tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số nước ta thời kì trên.
* Lập bảng Ma Trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp:              
         

Căn cứ BĐ Tròn BĐ Cột BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐ Kết hợp
Bảng số
liệu
  x x   x
Yêu cầu của đề bài   x x   x
Chức năng của biểu đồ         x
Cộng 0 2 2   3
 
Vậy, dạng biểu đồ thích hợp nhất ở bài tập này là biểu đồ kết hợp (cột và đường).
a. Vẽ biểu đồ
Bước 1: Vẽ hệ trục tọa độ có  hai trục tung và một trục hoành.
- Trục tung bên tay trái biểu thị %. Có mũi tên theo chiều tăng của đối tượng.
- Trục tung bên tay phải biểu thị triệu người. Có mũi tên theo chiều tăng của đối tượng.
- Trục hoành biểu thị các năm.
- Chú ý: Chia khoảng cách các năm. Tương quan giữa hai trục tung và giữa trục tung với trục hoành sao cho trực quan và thẫm mĩ.
Bước 2 : Tiến hành vẽ 
- Dân số vẽ bằng cột: Chiều cao của các cột chính là độ lớn nhỏ của đối tượng trong bảng số liệu. Bề ngang các cột phải bằng nhau. Ghi giá trị trên đầu mỗi cột.
- Tỷ lệ tăng tự nhiên vẽ bằng đường: Đánh dấu tọa độ các điểm mốc và nối các điểm mốc bằng các đoạn thẳng để tạo thành một đồ thị.
Bước 3: Hoàn thiện biểu đồ:
- Lập bảng chú giải
- Ghi tên biểu đồ.
- Tính thẫm mĩ

 
Biểu đồ biến đổi dân số nước ta thời kì 1954 - 2003
b. Nhận xét
- Từ 1954 – 2003 dân số nước ta liên tục tăng, bình quân mỗi năm tăng hơn 1 triệu người.
- Dân số nước ta tăng nhanh dẫn đến hiện tượng bùng nổ dân số vào những năm 50 của thế kỉ XX và kết thúc vào những năm cuối của thế kỉ XX.
- Tỉ lệ gia tăng dân số nước ta thay đổi qua từng giai đoạn. Cao nhất là thời kì 1954 - 1960 (3,9 %). Từ năm 1976 - 2003 có xu hướng giảm dần, thấp nhất là năm 2003 (1,3%)
- Mặc dù tỉ lệ gia tăng tự nhiên giảm nhưng hằng năm dân số nước ta vẫn tăng thêm khoảng 1 triệu người.
- Nhờ thực hiện tốt chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình nên tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số của nước ta có giảm nhưng còn chậm.
 
Ví dụ 8: Cho bảng số liệu
Cơ cấu GDP của nước ta thời kì 1991- 2002 (%)

Ngành 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2002
Tổng số
N-L-N nghiệp
CN-XD
Dịch vụ
100,0
40,5
23,8
35,7
100,0
29,9
28,9
41,2
100,0
27,2
28,2
44,0
100,0
25,8
32,1
42,1
100,0
25,4
34,5
40,1
100,0
23,3
38,1
38,6
100,0
23,0
38,5
38,5
 
a. Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện sự thay đổi cơ cấu kinh tế nước ta thời kì 1991-2002.
b. Nhận xét và giải thích  sự thay đổi đó.
 * Lập bảng Ma Trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp:

Căn cứ BĐ Tròn BĐ Cột BĐ Đồ thị BĐ Miền BĐ Kết hợp
Bảng số
liệu
  0 x x  
Yêu cầu của đề bài     x x  
Chức năng của biểu đồ       x  
Cộng 0 0 2 3 0
 
Vậy, dạng biểu đồ thích hợp nhất ở bài tập này là biểu đồ miền.
Bài làm
a. Vẽ biểu đồ:
Bước 1: Vẽ khung biểu đồ (là một hình chữ nhật hoặc hình vuông).
- Cạnh đứng thể hiện %
- Cạnh nằm ngang thể hiện khoảng cách từ năm đầu đến năm cuối.
Lưu ý: Khoảng cách năm và năm đầu tiên (1991) và năm cuối cùng (2002) nằm trên hai cạnh đứng của biểu đồ.
Bước 2: Xác định vị trí các miền (theo thứ tự trình độ phát triển). Giáo viên nên lưu ý với học sinh vị trí các miền trong cơ cấu kinh tế là cố định.
- Miền dưới cùng là của ngành nông - lâm - nghư nghiệp
- Miền ở giữa là của ngành công nghiệp - xây dựng
- Miền trên cùng là của ngành dịch vụ
Bước 3: Vẽ ranh giới các miền:
Tiến hành vẽ lần lượt các miền trong bảng số liệu  theo thứ tự đã được qui định sẵn.
- Ranh giới phía trên của miền thứ nhất (nông - lâm - nghư nghiệp) được vẽ như đồ thị (đánh dấu tọa độ các điểm mốc và nối các điểm mốc lại với nhau bằng các đoạn thẳng)
- Ranh giới phía trên của miền thứ nhất (nông - lâm - nghư nghiệp) lại là ranh giới phía dưới của miền thứ hai (công nghiệp - xây dựng)
- Ranh giới phía trên của miền cuối cùng (dịch vụ) chính là đường nằm ngang thể hiện tỉ lệ 100%
Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ:
- Ghi số liệu tương ứng và kí hiệu lên biểu đồ
- Lập bảng chú giải
- Ghi tên biểu đồ
 
 
 
Biểu đồ cơ cấu kinh tế nước ta thời kì 1991-2002
 


 
 

b. Nhận xét và giải thích sự thay đổi:
- Cơ cấu kinh tế nước ta giai đoạn 1991- 2002 đang chuyển dịch theo hướng:
+ Tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp xây dựng.
+ Giảm tỉ trọng của khu vực nông lâm nghư nghiệp.
+ Khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng khá cao nhưng chưa ổn định.
- Xu hướng chuyển dịch như trên là phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện nước ta hiện nay.
- Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
        Trên đây là một số ví dụ về các bài tập và bài thực hành vẽ, nhận xét và giải thích các loại biểu đồ thường gặp cùng với việc áp dụng "Phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ ở môn Địa lí 9 - THCS"
d. Kết quả thực hiện
          Sau một thời gian áp dụng "Phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ" đối với học sinh lớp 9 trong hai năm học 2011-2012 và 2012-2013 tôi đã đạt được một số kết quả bước đầu như sau:
* Về phía giáo viên:
- Khi tiến hành áp dụng phương pháp nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp bằng ma trận đồ và hướng dẫn một số lưu ý cho học sinh khối 9 trong các bài tập và bài thực hành về vẽ, nhận xét và giải thích các loại biểu đồ tôi thấy mình tự tin hơn khi đứng trên bục giảng làm nhiệm vụ truyền đạt kiến thức.
- Việc truyền thụ kiến thức lí thuyết của tôi không những trở nên dễ dàng hơn mà việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong các bài thực hành cũng ngày càng hiệu quả hơn.
- Thông qua đây công tác đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh cho bộ môn Địa lí cũng bước đầu có những kết quả khả quan.
- Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của tôi cũng đạt được những kết quả cao hơn.
* Về phía học sinh:
- Các giờ học thực hành của học sinh trở nên sôi nổi hơn. Học sinh làm việc nhiều hơn, tích cực, say mê và hiệu quả hơn.
- Số lượng học sinh yêu thích bộ môn ngày càng tăng lên. Trong hệ thống các môn học văn hóa, vai  trò của bộ môn Địa lí cũng được các em coi trọng hơn.
- Việc tiếp thu tri thức của học sinh trở nên tích cực hơn, không thụ động một chiều theo kiểu cô nói - trò nghe  như trước nữa.
- Kĩ năng nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và các bước tiến hành vẽ biểu đồ của học sinh trở nên thuần thục hơn. Nhiều học sinh yếu kém ít phát biểu xây dựng bài ngày càng trở nên tự tin hơn.
- Từ đây, kết quả rõ ràng nhất là tỉ lệ học sinh yếu kém và trung bình ngày càng giảm, số học sinh khá giỏi ngày càng tăng. Chất lượng môn học ngày càng tăng lên rõ rệt
Sau đây là một số kết quả cụ thể:
* Bảng so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng giải pháp
Bảng 1: Tỉ lệ kết quả nhận dạng biểu đồ và vẽ biểu đồ của
học sinh khối 9(%)

Lớp Tổng số học sinh Biết biểu đồ và vẽ đúng Sai biểu đồ hoặc đúng biểu đồ nhưng còn sai sót
Trước Sau Trước Sau
9A 39 45 60 55 40
9B 33 32 50 68 50
9C 33 30 47 70 53
Bảng 2: Kết quả các bài tập thực hành về vẽ biểu đồ của học sinh khối 9
Lớp Tổng số HS Điểm giỏi Điểm khá Điểm
trung bình
Điểm yếu kém
Trước Sau Trước Sau Trước Sau Trước Sau
9A 39 6 11 13 17 17 10 3 1
9B 33 2 7 6 12 20 12 5 2
9C 33 2 6 5 10 20 14 6 3
 
Bảng 3:  Tỉ lệ kết quả các bài tập thực hành về vẽ biểu
đồ của học sinh khối 9(%)

Lớp Tổng số HS Điểm giỏi Điểm khá Điểm
trung bình
Điểm yếu kém
Trước Sau Trước Sau Trước Sau Trước Sau
9A 100 15,4 28,2 33,3 43,6 43,6 25,6 7,7 2,6
9B 100 6,1 21,3 18,2 36,3 60,6 36,3 15,1 6,1
9C 100 6,1 18,1 15,1 30,3 60,6 42,4 18,2 9,1
 
 
        Đó là những kết quả tôi đã đạt được trong quá trình áp dụng phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ môn Địa lí 9. Mặc dù chưa nhiều và việc áp dụng vẫn còn mắc phải một số khó khăn nhât định nhưng bước đầu đã có những thay đổi đáng kể trong quá trình dạy và học bộ môn Địa lí ở cơ sở.
        Sau một thời gian nghiên cứu và áp dụng sáng kiến kinh ngiệm vào công tác giảng dạy, căn cứ vào hiệu quả thu được từ kết quả học tập của học sinh. Những bài học được rút ra trong quá trình nghiên cứu và áp dụng đề tài tôi nhận thấy việc tiếp tục nghiên cứu và tiếp tục phát triển đề tài vào quá trình dạy học rất có tính ứng dụng cao. Đây là phương pháp vừa giúp giáo viên nâng cao khả năng trình độ chuyên mô lại vừa có phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng nội dung bộ môn cần truyền đạt. Đồng thời cũng là một bước quan trọng trong đổi mới cách dạy, cách học. Nhưng quan trọng hơn cả là qua việc đưa đề tài vào giảng dạy chất lượng môn học đã không ngừng nâng lên.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
          Trên đây là toàn bộ những nội dung tôi muốn trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm về  áp dụng "Phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ  môn Địa lí 9- THCS ".
           Qua quá trình tìm kiếm, thu thập thông tin và tiến hành giải pháp cho đến nay thì công tác giảng dạy của tôi cũng như quá trình tiếp cận tri thức của hoc sinh đối với bộ môn Địa Lí đã thay đổi rất nhiều theo chiều hướng tích cực.
          Giờ đây, khi đứng trên bục giảng để truyền thụ kiến thức lí thuyết hay đang làm nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng cho học sinh tôi thấy mình tự tin hơn nhiều.
          Các tiết học dù là lí thuyết hay thực hành, dù là cô giảng hay trò tiếp thu cũng trở nên sôi nổi, hấp dẫn và đạt kết quả tốt hơn.
          Tất cả những kết quả đã đạt được đó cũng chính là mục tiêu cơ bản mà bộ môn Địa Lí muốn đạt được trong hệ thống các bài học từ lí thuyết đến thực hành, là mối quan hệ nhân quả rộng lớn giữa lí thuyết và thực tế, giữa những điều tưởng chừng như khô khan qua những bảng số liệu, biểu đồ đến những cái sống động, tiềm tàng ẩn mình phía sau đó.
          Và "Phương pháp ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ môn Địa Lí 9 - THCS" cụ thể được dù ít hay nhiều những mục tiêu cơ bản đó.
2. Kiến nghị - đề xuất
- Để giảng dạy tốt tiết thực hành hay hướng dẫn làm các bài tập vẽ biểu đồ thì người giáo viên cần:
+ Nắm vững kiến thức lí thuyết bởi vì dù là bài thực hành hay là các bài tập vẽ biểu đồ cũng chính là phương pháp để củng cố nội dung lí thuyết của các bài học liên quan.
+ Xác định và hiểu rõ mục tiêu mà bài tập hay bài thực hành cần đạt được để có phương pháp dạy học phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
+ Xây dựng bài giảng chi tiết, cụ thể để chủ động về kiến thức
+ Khi xây dựng, thiết kế giáo án cho các tiết thực hành người giáo viên nên hạn chế việc thuyết trình mà chủ yếu tập trung vào các câu hỏi mang tính gợi mở và hướng dẫn cho các em các thao tác để từ đó hành thành kĩ năng một cách thuần thục
+ Nên bám vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và tích hợp một số nội dung cần thiết.
+ Qúa trình học sinh tiến hành các thao tác để nhận dạng biểu đồ hay trong khi vẽ là khoảng thời gian quan trọng để người giáo viên tìm ra những sai sót để kịp thời uốn nắn. Đồng thời đó cũng là một cách để có thể đánh giá, tìm ra những em khá giỏi và những em thực sự còn yếu kém. Tìm ra những chổ hổng trong lí thuyết hay kĩ năng để kịp thời bổ sung và có phương pháp dạy học phù hợp cho từng đối tượng.
+ Chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học và nên ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài tập thực hành để bài học trở nên trực quan và hiệu quả hơn.
+ Chú ý rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự học ở nhà.
+ Hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà chu đáo.
        Để làm được những điều trên bản thân mỗi người giáo viên cần phải không ngừng  học tập, trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu tìm tòi nâng cao kiến thức trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thực sự phải tâm huyết với nghề.
-  Đối với các cấp quản lí giáo dục :
+ Tổ chức các chuyên đề nâng cao kiến thức, kĩ năng cho giáo viên.
+ Tổ chức các tiết dạy thể nghiệm để đúc rút kinh nghiệm .
 
        Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã đúc rút được trong quá trình giảng dạy, chắc chắn đang còn nhiều thiếu sót rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý bạn đọc để tôi có thể hoàn thiện thêm.
        Xin chân thành cảm ơn!
 
   
        
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tài liệu tham khảo
 

Tác giả bài viết: Ngô Thị Kim Dung

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

TIN BÀI MỚI NHẤT

LIÊN KẾT ỨNG DỤNG